Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế vì an sinh xã hội, vì hạnh phúc mọi người. Thực hiện Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế là trách nhiệm của Nhà nước, doanh nghiệp và mọi người lao động. Tham gia bảo hiểm y tế để được chăm sóc tốt về sức khoẻ và bảo đảm cho cuộc sống hạnh phúc. Thực hiện tốt chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế là góp phần bảo đảm an sinh xã hội của đất nước. Bảo hiểm xã hội - chỗ dựa vững chắc của người lao động.
Trang chủ
Các Phòng Ban
Các đơn vị trực thuộc
Các tổ chức Chính trị - Xã hội
Tin Tức
Các chế độ BHXH-BHYT
Văn bản
Biểu Mẫu
Văn hóa nghệ thuật
Nghiên cứu - Trao đổi
Từ thực trạng giải quyết chế độ TNLĐ ở BHXH tỉnh Quảng Nam theo Luật BHXH số 71/2006QH11 - Một số kiến nghị, đề xuất In E-mail
Chủ nhật, 09/10/2017 - 15:15

Nghiên cứu – Trao đổi

Th.sỹ Nguyễn Thanh Danh

 

Sau 9 năm thực hiện Luật BHXH nói chung, thực hiện chế độ TNLĐ nói riêng cho thấy chế độ, chính sách về TNLĐ đã từng bước cải cách theo hướng mở rộng quyền lợi người thụ hưởng bảo đảm bù đắp phần thu nhập bị giảm của NLĐ khi bị TNLĐ. Tuy nhiên, qua quá trình tổ chức thực hiện, vẫn còn nhiều vấn đề cần được xem xét chỉnh sửa, bổ sung.

Căn cứ kết quả nghiên cứu về cơ sở lý luận chung, kinh nghiệm thế giới và trong nước, kết quả khảo sát; những tồn tại, bất cập qua đánh giá thực trạng về chính sách và tổ chức thực hiện chính sách BHXH nói chung có liên quan và đối với chế độ TNLĐ hiện hành. Bài viết xin đề cập đến một số kiến nghị, đề xuất nhằm từng bước hoàn thiện nội dung về chính sách liên quan cũng như nội dung cụ thể về chế độ TNLĐ và tổ chức thực hiện trong thời gian đến.

1. Kiến nghị, đề xuất những nội dung liên quan đến hoàn thiện chính sách, chế độ TNLĐ

1.1. Quy định lộ trình mở rộng đối tượng tham gia BHXH bắt buộc bao phủ hết những người làm công ăn lương cho tất cả những NLĐ được thuê mướn làm việc thường xuyên, làm việc tạm thời, làm việc theo mùa vụ hay theo từng công việc cụ thể có hợp đồng hoặc không có hợp đồng... ở tất cả NSDLĐ. Tuy nhiên, khi mở rộng đối tượng cần đảm bảo nguyên tắc phải trên cơ sở tồn tại mối quan hệ lao động giữa NSDLĐ và NLĐ. Chẳng hạn, NSDLĐ là chủ DN tư nhân, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, và cá nhân có thuê mướn, sử dụng và trả công cho NLĐ... bản thân họ không phải là đối tượng tham gia BHXH bắt buộc vì họ tự trả lương cho chính mình (trừ những chủ DN lớn), không phát sinh quan hệ lao động nên khi họ tham gia BHXH bắt buộc chúng ta khó có thể quản lý chi trả một cách chặt chẽ, đúng đối tượng, đúng chế độ, chính sách như chi trả các chế độ TNLĐ hoặc chế độ ốm đau, thai sản...

1.2. Tiền lương làm căn cứ đóng BHXH cũng rất quan trọng trong việc xây dựng mức hưởng chế độ TNLĐ. Theo kết quả điều tra năm 2012 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thì mức tiền lương, tiền công làm căn cứ đóng BHXH còn khoảng cách lớn với mức tiền lương, tiền công thực tế của NLĐ, con số này mới chỉ bằng 66% tiền lương, tiền công thực tế.  Vì vậy, cần có quy định cho phù hợp và đúng để đảm bảo quyền lợi cho NLĐ theo hướng tiền lương đóng BHXH hàng tháng là thu nhập hàng tháng của họ.

1.3. Trong các văn bản Luật và hướng dẫn thực hiện Luật BHXH sẽ hợp lý hơn nếu thay thế cụm từ “suy giảm KNLĐ” bằng cụm từ “tổn thương cơ thể” khi NLĐ bị TNLĐ như tên gọi tại Thông tư Liên bộ số 28/2013/TTLB-BYT- BLĐTBXH ngày 27/9/2013 của Bộ Y tế - Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích, bệnh tật và BNN. Từng bước nghiên cứu mối quan hệ qua lại giữa mức độ tổn thương cơ thể với mức độ suy giảm KNLĐ để giải quyết cho nhiều trường hợp NLĐ bị TNLĐ có tỷ lệ tổn thương cơ thể thấp nhưng mức độ suy giảm KNLĐ lại cao.

1.4. Bỏ quy định NSDLĐ phải gửi biên bản điểu tra TNLĐ đến cơ quan BHXH tỉnh, nơi cơ sở có người bị nạn “đặt trụ sở chính” được quy định tại Thông tư liên tịch số 12/2012/TTLT-BLĐTBXH-BYT ngày 21/5/2012 của Liên bộ hướng dẫn việc khai báo, điều tra, lập biên bản, thống kê và báo cáo định kỳ TNLĐ.

1.5. Giảm trách nhiệm vật chất đối với NSDLĐ trong việc trợ cấp TNLĐ cho NLĐ, tức là NSDLĐ không phải trợ cấp TNLĐ khi lỗi để xảy ra TNLĐ thuộc về NLĐ và tăng trách nhiệm vật chất trong việc đền bù TNLĐ cho NLĐ mà lỗi do NSDLĐ gây ra.

1.6. Xuất phát từ quan điểm tắc đảm bảo cho NLĐ phải được giải quyết chế độ TNLĐ khi xảy ra TNLĐ, vì vậy nên quy định trách nhiệm của NSDLĐ hay cơ quan quản lý nhà nước trong quá trình tham gia điều tra, trường hợp trễ thời hạn quy định thì NLĐ vẫn được giải quyết hưởng chế độ TNLĐ đồng thời quy định phải giải trình lý do chậm trễ.

1.7. Để khắc phục những hạn chế về điều kiện xét hưởng chế độ TNLĐ cũng như đảm bảo quyền lợi cho NLĐ cần có quy định cụ thể trong văn bản đối tượng thụ hưởng chế độ TNLĐ là tất cả NLĐ khi thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị, không phân biệt nhiệm vụ chuyên môn hay nhiệm vụ khác. Quy định này phù hợp với thực tế bởi vì ngoài công việc chuyên môn NLĐ còn phải tham gia sinh hoạt chi bộ (nếu có), tham gia sinh hoạt ở các đoàn thể, hội...

1.8. Xuất phát từ quan điểm không phân biệt lỗi từ phía NLĐ nên cần quy định rõ NLĐ được hưởng chế độ TNLĐ ngay cả trường hợp bị tai nạn tại nơi làm việc, trong giờ làm việc hoặc khi thực hiện nhiệm vụ ngoài nơi làm việc, ngoài giờ làm việc hoặc trên đường đi từ nơi ở đến nơi làm việc và ngược lại, nhưng kết luận nguyên nhân là do bệnh lý, hoặc do sử dụng chất kích thích... 

1.9. Quy định NSDLĐ chịu toàn bộ trách nhiệm trong việc điều tra và lập biên bản điều tra trong tường hợp NLĐ bị tai nạn khi tham gia giao thông, biên bản vụ tai nạn giao thông hoặc biên bản khám nghiệm hiện trường của Công an giao thông là một trong những loại văn bản làm chứng cứ có vụ tai nạn xảy ra, tránh trường hợp chỉ căn cứ vào biên bản của Công an giao thông mới được xem xét chi trả chế độ TNLĐ.

1.10. Quy định NLĐ ở đơn vị nào quản lý khi bị TNLĐ thì NSDLĐ đơn vị đó phải trực tiếp phối hợp đìều tra, không quy định cơ sở để xảy ra TNLĐ điều tra như hiện nay.

1.11. Xuất phát từ quan điểm NSDLĐ là người theo dõi, giám sát, phân công, trực tiếp điều hành công việc mà NLĐ đang thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị nên cần quy định cụ thể trách nhiệm điều tra TNLĐ cấp cơ sở là NSDLĐ trực tiếp theo dõi, giám sát, phân công, điều hành công việc mà NLĐ đang thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị mình. Theo đó, công đoàn cơ sở hoặc đại diện tập thể NLĐ (nơi chưa thành lập công đoàn) cùng tham gia điều tra.

1.12. Cần quy định cụ thể về hồ sơ hưởng chế độ TNLĐ đối với trường hợp tai nạn được coi là TNLĐ là xác nhận vụ việc có xảy ra tai nạn đối với NLĐ. Trường hợp bị tai nạn khi tham gia giao thông mà không có Công an giao thông xử lý thì quy định thẩm quyền xác nhận cho chính quyền địa phương cấp xã thông qua Biên bản hoặc Giấy xác nhận (Biên bản của Công an giao thông quy định hiện hành nên xem là một trong các loại của văn bản đó); trường hợp vụ việc xảy ra ở đơn vị khác thì đơn vị có xảy ra tai nạn lập Giấy xác nhận.

1.13. Xuất phát từ quan điểm có sự khác biệt giữa chức năng quản lý thu và chi trả chế độ TNLĐ với chức năng quản lý nhà nước về TNLĐ thì hồ sơ và thời hạn giải quyết rõ ràng hơn. Theo đó, trách nhiệm của cơ quan BHXH thực hiện chức năng quản lý thu và chi trả chế độ TNLĐ.

Kể từ ngày 01/7/2016, quyền lợi cũng như việc giải quyết chế độ TNLĐ cho NLĐ tham gia BHXH bắt buộc được thực hiện theo Luật An toàn, Vệ sinh lao động đã thay đổi về thủ tục hồ sơ. Cụ thể, thành phần hồ sơ giải quyết TNLĐ gửi đến cơ quan BHXH không còn có Biên bản điều tra TNLĐ như quy định tại Luật BHXH năm 2006 và Luật BHXH năm 2014, hồ sơ hưởng chế độ TNLĐ chỉ bao gồm (1) Sổ BHXH; (2) Giấy ra viện hoặc trích sao hồ sơ bệnh án sau khi đã điều trị TNLĐ đối với trường hợp nội trú; (3) Biên bản giám định mức suy giảm KNLĐ của HĐGĐYK; (4) Văn bản đề nghị giải quyết chế độ TNLĐ theo mẫu do BHXH Việt Nam ban hành. Tuy nhiên, việc xác định vụ tai nạn đó có phải là TNLĐ hay không thì hiện chưa xác định trách nhiệm giải quyết giao cho cơ quan nào.

1.14. Xây dựng quy trình và thủ tục hồ sơ xem xét vụ tai nạn xảy ra là TNLĐ đồng thời xác định trách nhiệm của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh thẩm định, kết luận về vụ tai nạn được xác định là TNLĐ đồng thời ra văn bản công nhận tai nạn xảy ra là TNLĐ. Trong trường hợp phức tạp, cần thành lập Hội đồng tư vấn gồm các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan chuyên môn về y tế... giám định để thẩm định  hồ sơ TNLĐ.

1.15. Về cân đối thu và chi quỹ TNLĐ - BNN trên địa bàn cho thấy quỹ TNLĐ - BNN còn dư khá lớn, bình quân từ năm 2007 đến năm 2015 số chi chiếm tỷ lệ 17% số thu, vì vậy dự tính về quỹ TNLĐ - BNN thì sau khi bổ sung một số nội dung về quyền lợi hưởng như nêu trên, đề nghị quy định giảm tỷ lệ đóng vào quỹ TNLĐ - BNN thấp hơn 1% như hiện nay. Cần xem xét quy định tỷ lệ đóng khác nhau theo từng ngành trên cơ sở ra soát các ngành nghề hoặc khu vực có nguy cơ xảy ra TNLĐ cao thì tỷ lệ đóng cao.

1.16. Thiết kế mức hưởng chế độ TNLĐ - BNN chỉ phụ thuộc vào ba yếu tố là tỷ lệ suy giảm KNLĐ, mức đóng BHXH và mức lương cơ sở, trong đó đảm bảo yếu tố tỷ lệ suy giảm KNLĐ đóng vai trò chi phối.

            1.17. Cân đối lại một cách tương xứng cơ cấu mức hưởng theo tỷ lệ suy giảm KNLĐ của trợ cấp TNLĐ hàng tháng và mức hưởng theo tỷ lệ suy giảm KNLĐ trợ cấp TNLĐ một lần.

            1.18. Xem xét nâng cao mức hưởng trợ cấp TNLĐ hàng tháng đảm bảo mức hưởng bình quân bằng mức trợ cấp của đối tượng theo Quyết định 91/2000/QĐ-TTg ngày 4/7/2000 hoặc Quyết định 613/QĐ-TTg ngày 6/5/2010 của Thủ tướng Chính phủ.

            1.19. Bổ sung chế tài xử lý đối với NSDLĐ không thực hiện tốt trách nhiệm giải quyết chế độ TNLĐ cho NLĐ khi để xảy ra TNLĐ.

1.20. Đề nghị nghiên cứu bổ sung một số nội dung về quyền lợi của NLĐ liên quan đến chế độ TNLĐ:

- Bổ sung thời gian hưởng chế độ ốm đau hàng năm cho người tham gia BHXH là NLĐ đang hưởng chế độ TNLĐ hàng tháng (có tỷ lệ suy giảm KNLĐ 31% trở lên) như thời gian hưởng chế độ ốm đau của người làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế ban hành hoặc làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số từ 0,7 trở lên. 

            - Bổ sung thanh toán chế độ TNLĐ - BNN cho NLĐ bị suy giảm KNLĐ dưới 5% đảm bảo quyền lợi cho NLĐ đồng thời phù hợp với quy định về giám định tổng hợp trong trường hợp NLĐ bị TNLĐ lần hai trở lên hoặc vừa bị BNN vừa bị TNLĐ mà TNLĐ lần sau có tỷ lệ suy giảm KNLĐ dưới 5%.

- Được nghỉ dưỡng sức phục hồi sức khỏe sau TNLĐ - BNN tạo nên một chế độ TNLĐ - BNN mang tính nhân văn cao, tạo đà cho NLĐ tiếp xúc lại công việc ban đầu một cách bình thường. Vì vậy, quy định thời gian nghỉ ngơi cũng như hỗ trợ chi phí là cần thiết. Tuy nhiên, nên quy định NLĐ có thể nghỉ ngơi hết thời gian quy định hoặc có thể không nghỉ hết thời gian vẫn được hỗ trợ đủ tiền cho thời gian nghỉ ngơi cho phép. Theo đó thời gian nghỉ dưỡng sức phục hồi sức khỏe cũng nên xây dựng trên cơ sở tỷ lệ suy giảm KNLĐ. Tỷ lệ suy giảm KNLĐ càng lớn thì thời gian nghỉ dưỡng sức càng nhiều.

- Bổ sung thêm chế độ hưởng cho người NLĐ bị TNLĐ những bệnh về thần kinh và những bệnh để lại di chứng phức tạp.

2. Kiến nghị, đề xuất những nội dung về tổ chức thực hiện BHXH trong thời gian đến

2.1. Trước mắt, đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền, phổ biến pháp luật về BHXH bằng nhiều hình thức đa dạng, nội dung phù hợp với từng nhóm đối tượng tham gia để NSDLĐ và NLĐ hiểu rõ quyền và trách nhiệm của mình về BHXH để thực hiện. Tập trung vào hình thức đối thoại trực tiếp với NLĐ tại các đơn vị đã, đang và chưa tham gia với các nội dung thiết thực, sát thực với NLĐ dễ hiểu, dễ thực hiện. Nên đặt vấn đề thông tin lợi ích đến NLĐ trước khi ràng buộc nghĩa vụ họ tham gia BHXH, nhất là quy định về các chế độ BHXH được hưởng dễ gặp, dễ phát sinh. Đối với chế độ TNLĐ cần chú ý làm thế nào cho NLĐ và NSDLĐ nắm bắt được các điều kiện hưởng chế độ TNLĐ và quy trình khai báo, điều tra cũng như thủ tục hồ sơ kèm theo. Một khi NLĐ và NSDLĐ thông suốt được các vấn đề nêu trên thì không những góp phần phòng ngừa TNLĐ mà còn đảm bảo quyền được hưởng đầy đủ, kịp thời khi có TNLĐ xảy ra.

Về lâu dài cần xây dựng quy tắc ứng xử có văn hóa giữa NSDLĐ và NLĐ trên cơ sở quan hệ giữa người và người với nhau về quan hệ xã hội, điều kiện sống, sức khỏe, trí tuệ... đảm bảo trong tiến trình phát triển của xã hội không để cá nhân nào phải tụt lại phía sau hoặc tự mình phải chịu bất hạnh mà chính họ lúc còn sức khỏe đã có phần đóng góp chung cho xã hội. Để đạt được yêu cầu đó, ngay từ bây giờ cần phải làm sao cho NSDLĐ thấy vai trò, trách nhiệm của mình đối với xã hội; NLĐ phải tự bảo vệ mình cùng chung trách nhiệm với cộng đồng; cán bộ, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị phải hiểu rõ tầm quan trọng của phát triển kinh tế đi đôi với bảo vệ quyền con người, không vì giải quyết những yêu cầu trước mắt mà bỏ đi mục tiêu lâu dài.

2.2. Việc mở rộng đối tượng tham gia BHXH bắt buộc không chỉ chú trọng đến NLĐ mà còn cả NSDLĐ, nhất là NSDLĐ chưa có quan hệ với cơ quan BHXH. Vì vậy, cơ quan BHXH cần phối hợp chặt chẽ với các cơ quan quản lý Nhà nước về lao động, cơ quan cấp phép kinh doanh, cơ quan thuế tại địa phương để nắm đầy đủ số lượng đơn vị và NLĐ phải tham gia BHXH.

Về tiền lương làm căn cứ đóng BHXH, cơ quan BHXH cần phối hợp với cơ quan thuế địa phương để giám sát. Thực tế cho thấy, trong hoạt động sản xuất kinh doanh, NSDLĐ đều phải báo cáo thuế hàng tháng, hàng quý và hàng năm cho cơ quan thuế có xu hướng báo tăng chi phí (trong đó có tiền lương của NLĐ) để giảm thuế thu nhập DN, trong khi đó tiền lương đăng ký đóng BHXH cho NLĐ tại cơ quan BHXH thì NSDLĐ đăng ký thấp hơn.

2.3. Quỹ TNLĐ - BNN là quỹ thành phần thuộc quỹ BHXH, vì vậy để thuận lợi trong việc theo dõi tăng giảm cũng như cân đối thu chi làm cơ sở hoạch định những chính sách sát thực thực tế hơn cần tập trung các khoản kinh phí chi trả chế độ TNLĐ - BNN vào chung một đầu mối. Chẳng hạn, hiện nay kinh phí chi trả cho chế độ tuất của thân nhân NLĐ bị TNLĐ - BNN chết chưa hạch toán vào quỹ TNLĐ - BNN...

2.4. Các cơ quan, ban, ngành tăng cường kiểm tra, thanh tra việc thực hiện ký kết hợp đồng lao động, đóng BHXH; kiến nghị kịp thời đến cơ quan chức năng thực hiện xử phạt những đơn vị cố tình không thực hiện tham gia BHXH cho NLĐ. Thanh tra, kiểm tra hồ sơ đề nghị giải quyết chế độ BHXH  nói chung, chế độ TNLĐ nói riêng, nhất là thanh tra, kiểm tra hồ sơ đề nghị giải quyết chế độ TNLĐ ở các đơn vị HCSN đã để xảy ra TNLĐ quá nhiều, tránh tình trạng lạm dụng lây lan mang tính phong trào, cào bằng.

2.5. NSDLĐ cần tăng cường kỷ luật lao động tại đơn vị, bám sát nội quy quy chế tại đơn vị; thông báo tình hình TNLĐ - BNN hàng năm tại đơn vị cho NLĐ biết; phát huy vai trò của công đoàn hoặc đại diện NLĐ ở đơn vị.

2.6. Để cơ quan BHXH chỉ thực hiện chức năng quản lý quỹ BHXH nói chung, quỹ TNLĐ - BNN nói riêng cũng như tăng cường quan lý nhà nước về BHXH trên địa bàn, khi phát sinh TNLĐ cần quy định cho cơ quan quản lý nhà nước có trách nhiệm xác nhận vụ việc TNLĐ và giám sát NSDLĐ thực hiện tất cả nghĩa vụ đối với NLĐ khi xảy ra TNLĐ, sau đó chuyển hồ sơ đến cơ quan BHXH lập thủ tục chi trả như quy trình, thủ tục hồ sơ, thời hạn quy định tại Luật An toàn, Vệ sinh lao động số 84/2015/QH13 có hiệu lực từ ngày 01/7/2016. Để thực hiện chi trả kịp thời chế độ TNLĐ - BNN cho NLĐ nên phân cấp lập thủ tục chi trả cho BHXH cấp huyện, trước mắt phân cấp thu gắn với chi trả chế độ TNLĐ - BNN một lần.

2.7. Tập trung triển khai hiện đại hóa quản lý BHXH, nhất là việc áp dụng công nghệ thông tin tiên tiến trong quản lý đối tượng, thống nhất số định danh cho từng người tham gia BHXH, BHYT, kết nối dữ liệu của các tổ chức khác có liên quan để đảm bảo phát triển đối tượng, chống việc lạm dụng quỹ BHXH và quyền lợi hưởng BHXH của NLĐ được đảm bảo đầy đủ, kịp thời.

2.8. Đối với cán bộ, công chức, viên chức ngành BHXH cần đẩy mạnh đổi mới tác phong làm việc từ hành chính sang tác phong phục vụ năng động trong công tác thu, coi trọng việc cải cách thủ tục hành chính theo hướng tăng tính phục vụ hỗ trợ, giảm tối đa sự phiền hà, mất thời gian của NSDLĐ.

2.9. Tiếp tục đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất, công sở hiện đại, đặc biệt ưu tiên đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ công tác quản lý, chi trả chế độ, đảm bảo quyền lợi NLĐ, đồng thời đảm bảo an toàn quỹ BHXH nói chung và quỹ TNLĐ - BNN nói riêng.

2.9. Tiếp tục học tập kinh nghiệm của các nước để áp dụng một cách sáng tạo vào tình hình thực tế của nước ta, nhất là trong các vấn đề mở rộng tham gia BHXH gắn với quản lý chi trả chế độ TNLĐ - BNN, xây dựng mức đóng đảm bảo có sự chia sẽ giữa các ngành nghề khác nhau...

            Tài liệu tham khảo:

- Bộ luật Lao động năm 1994; Bộ luật Lao động sửa đổi năm 2002; Bộ luật Lao động năm 2012. Luật BHXH năm 2006, 2014. Luật BHYT năm 2008, 2014. Luật An toàn, Vệ sinh lao động số 84/2015/QH13 có hiệu lực từ ngày 01/7/2016; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT năm 2014.

- Thông tư số 08/2003/TT-BLĐTBXH ngày 08/4/2003 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện chế độ nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe theo Nghị định số 01/2003/NĐ-CP ngày 09/01/2003 của Chính phủ; Quyết định số 18/2007/QĐ-BCA(C11) ngày 05/01/2007 của Bộ Công an ban hành quy trình điều tra giải quyết tai nạn giao thông đường bộ;  Thông tư số 03/2007/TT-BLĐTBXH ngày 30/01/2007 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 152/NĐ-CP ngày 22/12/2006 của Chính phủ hướng dẫn một số điều của Luật BHXH về BHXH bắt buộc; Thông tư số 23/2012/TT-BLĐTBXH ngày 18/10/2012 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội sửa đổi, bổ sung Thông tư số 19/2008/TT-BLĐTBXH ngày 23/9/2008.

- Đề tài nghiên cứu khoa học năm 2014 về “Chế độ ốm đau, thai sản, TNLĐ - BNN theo quy định của Luật BHXH - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện” của tác giả Nguyễn Hùng Cường (BHXHViệt Nam); Đề tài nghiên cứu khoa học năm 2010 về: “Chế độ TNLĐ trong chính sách BHXHở Việt Nam - Thực trạng và định hướng hoàn thiện” của tác giả Đào Thị Hải Nguyệt (BHXHViệt Nam).

- Một số bài viết: bài viết “Vấn đề đặt ra trong quản lý chi trả chế độ BHXH đối với chủ hộ kinh doanh cá thể khi tham gia BHXH bắt buộc” đăng trên tạp chí BHXH tháng số 245 kỳ 1 tháng 3/2014; bài viết “Vấn đề trợ cấp nghỉ dưỡng sức phục hồi sức khỏe theo Luật BHXH hiện hành” đăng trên tạp chí BHXHsố 258 kỳ 2 tháng 9/2014; bài viết “Một số vấn đề về TNLĐ theo quy định hiện hành” đăng trên tạp chí BHXH số 272 kỳ 2 tháng 4/2015  của Thạc sỹ kinh tế Nguyễn Thanh Danh - BHXH tỉnh Quảng Nam,

- Công văn số 4249/BHXH - CSXH ngày 28/10/2013 của BHXH Việt Nam gửi Bộ Lao động Thương Binh và Xã hội v/v vướng mắc trong thực hiện chế độ TNLĐ.

 

 

 

 
<< Bắt đầu < Trước 1 2 3 4 Tiếp > Cuối >>

Kết quả 1 - 7 / 22

Tuyên truyền

ISO 9001:2008




 
 

Lượt truy cập