Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế vì an sinh xã hội, vì hạnh phúc mọi người. Thực hiện Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế là trách nhiệm của Nhà nước, doanh nghiệp và mọi người lao động. Tham gia bảo hiểm y tế để được chăm sóc tốt về sức khoẻ và bảo đảm cho cuộc sống hạnh phúc. Thực hiện tốt chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế là góp phần bảo đảm an sinh xã hội của đất nước. Bảo hiểm xã hội - chỗ dựa vững chắc của người lao động.
Trang chủ
Các Phòng Ban
Các đơn vị trực thuộc
Các tổ chức Chính trị - Xã hội
Tin Tức
Các chế độ BHXH-BHYT
Văn bản
Biểu Mẫu
Văn hóa nghệ thuật
Nghiên cứu - Trao đổi
Nghiên cứu – Trao đổi: Bài 1: Từ kết quả giải quyết chế độ TNLĐ ở BHXH tỉnh Quảng Nam theo Luật BHXH số 71/2006QH11 - Vài nhận định về thực trạng chính sách In E-mail
24/06/2017

Th.sỹ Nguyễn Thanh Danh

 

Bài 1: Từ kết quả giải quyết chế độ TNLĐ ở BHXH tỉnh Quảng Nam theo Luật BHXH số 71/2006QH11 - Vài nhận định về thực trạng chính sách

Thứ nhất, về đối tượng tham gia và thụ hưởng

Một là, so với đối tượng tham gia và thụ hưởng các chế độ BHXH bắt buộc quy định tại Điều lệ BHXH ban hành kèm theo Nghị định 12/CP ngày 26/01/1995 và Nghị định 01/2003/NĐ-CP ngày 9/01/2003 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Điều lệ BHXH thì đối tượng tham gia BHXH bắt buộc được quy định tại Luật BHXH năm 2006 được mở rộng hơn cả với NLĐ và NSDLĐ. Tuy nhiên, thực tế cho thấy đối tượng tham gia và hưởng chế độ BHXH vẫn còn hạn chế, chưa bao phủ hết những người làm công ăn lương như mô hình thực hiện BHXH ở Thái Lan cho tất cả những NLĐ được thuê mướn làm việc thường xuyên, làm việc tạm thời, làm việc theo mùa vụ hay theo từng công việc cụ thể có hợp đồng hoặc không có hợp đồng...

Hai là, đối với NSDLĐ tham gia BHXH bắt buộc thì Luật BHXH 2006 đã chỉ khá rõ họ bao gồm cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội khác; cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam; DN, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng và trả công cho NLĐ. Tuy nhiên, Luật BHXH 2006 chưa quy định quyền tham gia BHXH của những NSDLĐ ở hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng và trả công cho NLĐ bởi bản thân họ đồng thời cũng là NLĐ.

Ba là, đối với NLĐ là hoạt động không chuyên trách ở xã, phường thị trấn quy định tại khoản i điểm 1 Điều 2 Luật BHXH 2014 là đối tượng tham gia BHXH bắt buộc nhưng chỉ được hưởng 2 chế độ là thiếu công bằng.

Thứ hai, về trách nhiệm điều tra TNLĐ

Việc điều tra TNLĐ và trách nhiệm của NSDLĐ được quy định rất cụ thể tại Thông tư liên tịch số 14/2005/TTLT-BLĐTBXH-BYT-TLĐLĐVN ngày 08/3/2005 và Thông tư liên tịch số Thông tư liên tịch số 12/2012/TTLT-BLĐTBXH-BYT ngày 21/5/2012 của Liên bộ trong việc điều tra TNLĐ ở cấp cơ sở, cấp tỉnh, cấp Trung ương. Tuy nhiên, quá trình thực hiện cho thấy quy định chưa cụ thể, rõ ràng việc điều tra TNLĐ giao cho đơn vị quản lý NLĐ hay giao cho đơn vị trực tiếp sử dụng NLĐ thực hiện do chưa xác định rõ ai là NSDLĐ dẫn đến hồ sơ TNLĐ có quá nhiều cấp tham gia điều tra làm kéo dài thời gian lập hồ sơ giải quyết chế độ TNLĐ cho NLĐ. Nhiều trường hợp NLĐ bị tai nạn trong quá trình thực hiện công việc do người có thẩm quyền phân công nhưng không được coi là TNLĐ, có trường hợp không xác định được trách nhiệm của NSDLĐ. Cụ thể, tại Điểm b Khoản 1 Điều 39 Luật BHXH quy định về điều kiện hưởng chế độ TNLĐ là bị tai nạn ngoài nơi làm việc hoặc ngoài giờ làm việc khi thực hiện công việc theo yêu cầu của NSDLĐ. Tuy nhiên, việc xác định người “sử dụng lao động” bao gồm những ai thì chưa định danh cụ thể khi ở một đơn vị ngoài bộ máy điều hành công việc chính còn có hoạt động của tổ chức cơ sở Đảng, đoàn thể và nhiều quy chế phối hợp đan xen giữa các đơn vị mà NLĐ phải thực hiện.

Thứ ba, về thủ tục hồ sơ, trách nhiệm và thời hạn giải quyết

Một là, quy định về hồ sơ hưởng chế độ TNLĐ được xem là gọn nhẹ và được mẫu hóa tối đa. Tuy nhiên, đối với trường hợp NLĐ bị tai nạn giao thông được xem là TNLĐ thì thiếu nhất quán trong cách hiểu dẫn đến khó khăn trong quá trình thực hiện quy định “biên bản tai nạn giao thông” tại Luật BHXH 2006. “Biên bản tai nạn giao thông” được hiểu là một loại giấy tờ cụ thể được mẫu hóa hay là một xác nhận về nội dung vụ việc tai nạn giao thông xảy ra. Thực tế cho thấy “biên bản tai nạn giao thông” chưa được chấp nhận cả mặt hình thức lẫn nội dung trong quá trình tổ chức thực hiện. Xét về mặt hình thức thì chỉ có “biên bản vụ tai nạn giao thông” hoặc “biên bản giải quyết vụ tai nạn giao thông” hoặc “biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông”, theo đó các loại biên bản này thuộc thẩm quyền của Công an giao thông lập (theo Thông tư số 77/2012/TT-BCA ngày 28/12/2012 và Quyết định số 18/2007/QĐ-BCA ngày 05/01/2007 của Bộ Công an), không có loại “biên bản tai nạn giao thông” như Luật BHXH 2006 quy định. Xét về mặt nội dung, nếu xem “biên bản tai nạn giao thông” là một xác nhận có vụ việc tai nạn giao thông xảy ra thì chưa quy định thẩm quyền thuộc cá nhân hay cơ quan nào thực hiện. Vì vậy, nhiều vụ tai nạn giao thông coi như TNLĐ xảy ra ở vùng sâu, vùng cao, vùng xa, đường nội bộ, đường nông thôn...  thì NLĐ không có đủ hồ sơ đề nghị giải quyết chế độ TNLĐ vì thiếu “biên bản tai nạn giao thông” như quy định trên. 

Hai là, về trách nhiệm và thời hạn giải quyết chế độ TNLĐ được quy định hết sức chặt chẽ trong Luật BHXH năm 2006; phân định trách nhiệm cho cá nhân và thân nhân NLĐ bị TNLĐ, trách nhiệm của NSDLĐ cũng như của cơ quan BHXH các cấp trong việc lập hồ sơ đề nghị giải quyết, tiếp nhận hồ sơ, ra quyết định và tổ chức chi trả. Thời hạn giải quyết được rút ngắn hơn so với quy định trước đây. Tuy nhiên, Luật BHXH năm 2006 mới xây dựng trách nhiệm và quy định thời hạn giải quyết hồ sơ TNLĐ cho vụ tai nạn đã được xác định là TNLĐ, chưa xây dựng trách nhiệm và thời hạn thẩm định vụ tai nạn đó có phải là TNLĐ hay không? Việc thẩm định vụ tai nạn đó có phải là TNLĐ hay không thì thực tế cho thấy hầu hết các vụ TNLĐ được giải quyết đều phải bổ sung hồ sơ, thời gian thường kéo dài. Hơn nữa, Luật BHYT năm 2008 quy định NLĐ bị TNLĐ không được hưởng chi phí BHYT mà chi phí này NSDLĐ phải chi trả, do vậy hầu hết các hồ sơ đề nghị giải quyết chế độ TNLĐ đều phát sinh thêm quy trình thu hồi chi phí BHYT, theo đó thời gian chờ thu hồi dẫn đến kéo dài thời gian chi trả chế độ cho NLĐ, nhất là trường hợp NLĐ điều trị tại các cơ sở khám chữa bệnh ngoại tỉnh (Vì các cơ sở KCB có hợp tác mới đảm bảo hồ sơ giải quyết).  

Thứ tư, về thu - chi quỹ TNLĐ

Luật BHXH 2006 quy định NSDLĐ đóng góp quỹ TNLĐ - BNN bằng 1% trên tổng quỹ lương làm căn cứ đóng BHXH của NLĐ, song được áp dụng cho tất cả các đơn vị tham gia BHXH không phân biệt loại hình cơ sở hoặc ngành, nghề nào có nguy cơ xảy ra tai nạn cao. Điều này thể hiện trách nhiệm chung của NSDLĐ và mang tính chia sẽ cộng đồng song thiếu công bằng nếu như NSDLĐ đã đầu tư lớn vào công tác an toàn lao động tại đơn vị mình để hạn chế TNLĐ xảy ra; đối với đơn vị hưởng lương từ ngân sách thì ngân sách phải đóng góp một khoản khá lớn trong khi môi trường lao động lại an toàn hơn rất nhiều. Điều bất hợp lý này xem ra được giải quyết khi thiết kế Điều luật 133 Luật BHXH năm 2006 về khen thưởng cho phép “NSDLĐ thực hiện tốt công tác bảo hộ lao động, phòng ngừa TNLĐ, BNN được khen thưởng từ quỹ bảo hiểm TNLĐ, BNN”. Tuy nhiên, thực tế cho đến cuối năm 2015 Điều luật này không được thực hiện.

Thứ năm, quy định về quyền hưởng, mức hưởng

Một là, về quyền hưởng chế độ TNLĐ của NLĐ: Những người bị TNLĐ tuy đã được điều trị ổn định và được hưởng trợ cấp BHXH một lần hoặc hàng tháng, nhưng cũng không có nghĩa là mức suy giảm KNLĐ không tác động đến công việc và sinh hoạt sau này của họ. Theo đó, trong trường hợp những người này còn đang tiếp tục làm việc thì thời gian ốm đau, nghỉ việc đều được thanh toán chế độ ốm đau theo quy định. Tuy nhiên, thời gian hưởng chế độ ốm đau quy định theo Luật BHXH năm 2006 được xây dựng trên cơ sở thời gian đóng BHXH hoặc làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc Danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành hoặc nơi làm việc có hệ số khu vực từ 0,7 trở lên, không căn cứ vào mức suy giảm KNLĐ của NLĐ bị TNLĐ thì thực sự là một thiệt thòi lớn đối với họ.

Đối với những người bị TNLĐ có mức độ suy giảm KNLĐ dưới 5% không được chi trả chế độ TNLĐ như quy định tại Khoản 2 Điều 39 Luật BHXH là chưa thật sự công bằng, bởi có nhiều tổn thương được đánh giá có tỷ lệ thấp hơn 5% song KNLĐ cũng như khả năng tái tạo sức lao động của họ bị giảm đi rất nhiều. Bên cạnh đó, chưa đảm bảo nguyên tắc chi trả dựa trên tỷ lệ suy giảm KNLĐ, thời gian tham gia và mức đóng BHXH. TNLĐ là tai nạn gây tổn thương cho cơ thể NLĐ thể hiện ở tỷ lệ suy giảm KNLĐ nhưng mức hưởng theo Luật BHXH 2006 thì phụ thuộc quá nhiều vào thời gian đóng BHXH, điều này dẫn đến NLĐ bị TNLĐ có tỷ lệ tổn thương cơ thể cao nhưng có thời gian đóng BHXH ít thì mức hưởng ít theo.

Hai là, về mức hưởng và các yếu tố ảnh hưởng đến mức hưởng chế độ TNLĐ: So với căn cứ xây dựng mức hưởng quy định tại Luật BHXH năm 2006 với căn cứ xây dựng mức hưởng chế độ TNLĐ trước ngày 01/01/2007 quy định tại Điều lệ BHXH ban hành kèm theo Nghị định 12/CP ngày 26/1/1995 của Chính phủ thì căn cứ xây dựng mức hưởng quy định tại Luật BHXH năm 2006 rộng hơn, sát thực hơn. Nếu trước ngày 01/01/2007 NLĐ bị TNLĐ hưởng chế độ TNLĐ chỉ theo tỷ lệ suy giảm KNLĐ thì kể từ ngày 01/01/2007 trở đi, NLĐ bị TNLĐ ngoài căn cứ vào tỷ lệ suy giảm KNLĐ còn căn cứ vào mức đóng BHXH, mức lương cơ sở tại thời điểm bị TNLĐ và thời gian tham gia BHXH trước ngày bị TNLĐ. Tuy nhiên, khi căn cứ vào thời gian tham gia BHXH trước ngày bị TNLĐ thì nảy sinh vấn đề tính hưởng trùng thời gian đóng BHXH khi NLĐ bị tai nạn nhiều lần hoặc vết thương tái phát từ điều kiện hưởng một lần lên hàng tháng hoặc vừa bị TNLĐ vừa bị BNN hoặc trùng thời gian tính hưởng chế độ BHXH một lần hoặc chế độ hưu trí sau này.

 Còn trường hợp NLĐ có thời gian đóng BHXH nhiều năm song bị TNLĐ lần đầu có tỷ lệ suy giảm KNLĐ dưới 5% không được hưởng chế độ TNLĐ thì thực sự họ không được đối xử công bằng. Trong khi đó, NLĐ đã được hưởng chế độ TNLĐ một lần mà sau đó tiếp tục bị TNLĐ nhưng có tỷ lệ suy giảm KNLĐ dưới 5% thì vẫn có nhiều cơ hội được hưởng tiếp lần hai do được giám định tổng hợp.

Ba là, về chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ: Chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ sau khi điều trị thương tật là chế độ quy định với mục đích giúp NLĐ được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ sau khi bị TNLĐ mà sức khỏe còn yếu, giúp NLĐ sớm hồi phục sức khỏe để trở lại làm việc. Tuy nhiên, NLĐ đã điều trị ổn định thương tật để trở lại làm việc như lúc chưa bị TNLĐ là cả quá trình dần hồi phục sức khỏe từ thấp đến cao; không ai có thể sau khi bị tai nạn lại có sức khỏe như lúc chưa bị tai nạn. Thực tế sau khi điều trị ổn định NLĐ đi làm lại được nhưng sức khỏe còn yếu lại không được hưởng dưỡng sức vì đã đi làm lại thì có hưởng lương, đây cũng là vấn đề cần nghiên cứu thêm.

Ngoài ra, với NSDLĐ thì vấn đề cần phải bàn đến là trách nhiệm của họ như thế nào trong trường hợp NLĐ bị TNLĐ mà không do lỗi của NSDLĐ, ngoài các khoản tiền lương phải trả trong thời gian NLĐ điều trị họ phải trả một khoản trợ cấp ít nhất bằng 40% mức quy định về bồi thường cho NLĐ cũng như phải trả chi phí điều trị tổn thương. Theo quy định hiện hành thì trách nhiệm của NSDLĐ trong trường hợp nêu trên quá cao.

Thứ sáu, quy định về quản lý chế độ TNLĐ

Trước và sau năm 2007, khi có vụ TNLĐ xảy ra việc khai báo TNLĐ; các quy định về thành lập Đoàn điều tra, thẩm quyền, nhiệm vụ của Đoàn điều tra TNLĐ cũng như quy trình, thời hạn điều tra TNLĐtrách nhiệm của NSDLĐ của cơ sở xảy ra TNLĐ; trách nhiệm của người bị nạn, người biết sự việc và người có liên quan đến vụ TNLĐ; việc thống kê và báo cáo TNLĐ khá chặt chẽ. Tuy nhiên, liên quan đến việc quản lý chế độ TNLĐ vẫn còn một số bất cập sau đây:

Một là, khi NSDLĐ lập biên bản điều tra TNLĐ cũng như gửi biên bản điều tra TNLĐ và biên bản công bố đến các bên liên quan, trong đó có cơ quan BHXH cấp tỉnh trễ thời hạn theo quy định hoặc không gửi biên bản thì giải quyết như thế nào? NLĐ có được giải quyết chế độ TNLĐ hay không?

Hai là, việc quy định gửi đến cơ quan BHXH cấp tỉnh biên bản điều tra TNLĐ để giải quyết chế độ TNLĐ cho NLĐ, vậy biên bản điều tra TNLĐ này có thay thế thành phần hồ sơ quy định tại Luật BHXH không? Cụ thể: NSDLĐ đã gửi Biên bản điều tra TNLĐ rồi thì có yêu cầu nộp thêm Biên bản điều tra TNLĐ như Luật quy định không?

Ba là, việc quy định gửi biên bản điều tra TNLĐ đến cơ quan BHXH tỉnh, nơi cơ sở có người bị nạn “đặt trụ sở chính” để giải quyết chế độ cho NLĐ, tuy nhiên NLĐ đóng BHXH ở nơi khác nơi đơn vị “đặt trụ sở chính” thì giải quyết như thế nào?

Bốn là, đối với TNLĐ xảy ra ở đơn vị khác theo quy định thì biên bản điều tra TNLĐ do đơn vị để xảy ra TNLĐ chịu trách nhiệm lập, còn NSDLĐ có NLĐ bị TNLĐ chỉ là thành phần tham dự là việc hết sức khó khăn.

 
<< Bắt đầu < Trước 1 2 3 Tiếp > Cuối >>

Kết quả 1 - 7 / 19

ISO 9001:2008




 



blg_copy.jpg
bg2016.6.1.jpg


 

Lượt truy cập