Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế vì an sinh xã hội, vì hạnh phúc mọi người. Thực hiện Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế là trách nhiệm của Nhà nước, doanh nghiệp và mọi người lao động. Tham gia bảo hiểm y tế để được chăm sóc tốt về sức khoẻ và bảo đảm cho cuộc sống hạnh phúc. Thực hiện tốt chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế là góp phần bảo đảm an sinh xã hội của đất nước. Bảo hiểm xã hội - chỗ dựa vững chắc của người lao động.
Trang chủ
Các Phòng Ban
Các đơn vị trực thuộc
Các tổ chức Chính trị - Xã hội
Tin Tức
Các chế độ BHXH-BHYT
Văn bản
Biểu Mẫu
Văn hóa nghệ thuật
Từ thực trạng giải quyết chế độ TNLĐ ở BHXH tỉnh Quảng Nam theo Luật BHXH số 71/2006QH11 – Một số định hướng chung và cách tiếp cận việc giải quyết chế độ TNLĐ trong thời gian đến In E-mail
05/09/2017

Th.sỹ Nguyễn Thanh Danh

1. Một số định hướng chung phát triển BHXH

Thứ nhất, tiếp tục mở rộng các loại hình, đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội (BHXH), tiến tới tạo điều kiện cho mọi người lao động (NLĐ) có quan hệ làm công ăn lương làm việc ở mọi thành phần kinh tế được tham gia và hưởng các chế độ BHXH nhằm thực hiện mục tiêu công bằng và tiến bộ xã hội.

Thứ hai, tiếp tục bổ sung, sửa đổi nội dung trong chính sách, chế độ và tổ chức thực hiện chế độ BHXH hiện hành cho phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội trong giai đoạn mới nhằm tạo cho mọi NLĐ và người sử dụng lao động (NSDLĐ) có điều kiện tham gia BHXH và hưởng các chế độ BHXH theo hướng ngày càng đảm bảo tốt hơn không chỉ đảm bảo quyền lợi của NLĐ mà còn đảm bảo tốt hơn lợi ích của NSDLĐ trong mọi thành phần kinh tế.

Thứ ba, tiếp tục tạo ra cơ sở pháp lý để đảm bảo mức lương làm căn cứ đóng BHXH hàng tháng của NLĐ cũng chính là thu nhập của họ để không chỉ bảo vệ lợi ích của NLĐ hưởng các chế độ BHXH trên cơ sở mức đóng mà còn bảo vệ sự công bằng, bình đẳng giữa những NSDLĐ với nhau khi tham gia vào nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Thứ tư, nghiên cứu một cách có hệ thống về cân đối thu chi từng quỹ thành phần nhằm kịp thời điều chỉnh mức đóng hợp lý hoặc xem xét lại các điều kiện hưởng từng chế độ cho phù hợp với điều kiện phát sinh trong giai đoạn mới cũng như đảm bảo quỹ BHXH được bảo toàn, tăng trưởng bền vững và chủ động trong việc thực hiện các chế độ BHXH.

Thứ năm, cần phân định rõ chức năng quản lý Nhà nước, quản lý quỹ BHXH và tổ chức thực hiện trong chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng đơn vị hoặc từng lãnh vực thực hiện chính sách BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT) và bảo hiểm thất nghiệp (BHTN).

 Thứ sáu, đẩy mạnh công tác đào tạo cho cán bộ làm công tác BHXH, đảm bảo để hệ thống tổ chức BHXH có đội ngũ cán bộ có tinh thần phục vụ cao, có trình độ chuyên môn giỏi, nhất là trong các lĩnh vực tổ chức thực hiện chính sách, quản lý quỹ BHXH và công nghệ thông tin...

Thứ bảy, tiếp tục hợp tác quốc tế để trao đổi kinh nghiệm về tổ chức thực hiện chính sách BHXH và hợp tác trong công tác đào tạo cán bộ quản lý, cán bộ chuyên môn nghiệp vụ làm công tác BHXH.

2. Cách tiếp cận việc giải quyết chế độ TNLĐ trong thời gian đến

 Để góp phần hoàn thiện chính sách và giải quyết chế độ TNLĐ tốt hơn, trên cơ sở những định hướng chung phát triển BHXH, cần có những cách tiếp cận cụ thể sau đây:

Một  là, phải đảm bảo 100% NLĐ có quan hệ lao động phải được tham gia BHXH bắt buộc. Yêu cầu này xuất phát từ thực tế còn có rất nhiều NLĐ không được hưởng chế độ BHXH nói chung, chế độ TNLĐ nói riêng do không được tham gia BHXH bắt buộc. Phải có chế tài đủ mạnh để xử lý đối với NSDLĐ trốn tránh trách nhiệm đối với NLĐ, đối với xã hội; không tuân thủ theo quy định của pháp luật về lao động.

Hai là, đảm bảo nguyên tắc có đóng có hưởng, mức hưởng trên cơ sở mức đóng và gắn với bản chất của từng loại chế độ BHXH. Đối với chế độ TNLĐ, khi xây dựng mức hưởng cần dựa vào mức độ tổn thương cơ thể là chính, bởi ý nghĩa của sự chia sẽ cộng đồng ở đây chính là mức độ tổn thương nặng hay nhẹ. Cùng bị TNLĐ nhưng người có mức tổn thương nhẹ hơn sẽ chia sẽ cho người bị nặng hơn. Trên thực tế nguyên tắc này chưa thực hiện được, quy định hiện hành cho thấy NLĐ bị tổn thương cơ thể có tỷ lệ cao nhưng mức đóng thấp, có thời gian đóng ít hơn thì hưởng ít hơn NLĐ bị tổn thương cơ thể có tỷ lệ thấp nhưng có mức đóng cao, có thời gian đóng nhiều hơn. Hơn nữa, khi xác định mức hưởng trên cơ sở thời gian đóng BHXH đã xảy ra tình trạng tính trùng thời gian đóng BHXH giữa các chế độ TNLĐ với nhau hoặc TNLĐ với chế độ trợ cấp bệnh nghề nghiệp (BNN); hoặc giữa chế độ TNLĐ, BNN với chế độ hưu trí, tuất một lần...

Ba là, mọi NLĐ đều phải thực hiện tốt nhiệm vụ không chỉ là công việc chuyên môn của mình mà còn phải gắn với việc thực hiện tốt đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Vì vậy, NLĐ khi bị tai nạn xảy ra phải được xem xét trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị không chỉ có xem xét đến nhiệm vụ chuyên môn và tai nạn xảy ra trong quá trình đó được xác định là TNLĐ. Yêu cầu này xuất phát từ thực tế cho thấy khi NLĐ được phân công thực hiện công tác như tham gia tập thể thao, dự hội thao; tham gia tập văn nghệ, dự hội diễn văn nghệ; đi thăm người ốm đau; đi viếng đám ma; đi họp Chi bộ Đảng; họp các tổ chức đoàn thể, đi dự đại hội các tổ chức đoàn thể... bị tai nạn thì chưa được xem xét là TNLĐ.

Bốn là, NSDLĐ được hiểu là người trực tiếp theo dõi, giám sát, phân công, điều hành công việc mà NLĐ đang thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị... Yêu cầu này xuất phát từ thực tế là nhiều đơn vị có nhiều cấp quan lý, không phân biệt đơn vị quản lý NLĐ và đơn vị sử dụng NLĐ dẫn đến trách nhiệm của NSDLĐ không rõ ràng.

Năm là, có sự phân biệt giữa khái niệm mức độ tổn thương cơ thể và mức độ suy giảm KNLĐ trong TNLĐ và thay thế khái niệm mức độ suy giảm KNLĐ bằng khái niệm mức độ tổn thương cơ thể mà hiện nay hai khái niệm này đồng nhất với nhau. Mức độ tổn thương cơ thể được hiểu là kết quả đánh giá về mặt chuyên môn về hậu quả tổn thương tại một bộ phận trên cơ thể vào một thời điểm và một không gian nhất định, tổn thương cơ thể là một trong nhiều yếu tố dẫn đến suy giảm KNLĐ. Thực trạng trình bày phần trên cho thấy có nhiều NLĐ không được hưởng chế độ TNLĐ vì lấy kết quả đánh giá suy giảm KNLĐ thấp hơn 5% hoặc thực tế hiện nay chưa có sự đồng bộ về việc đánh giá mức suy giảm KNLĐ, ví dụ NLĐ bị TNLĐ suy giảm KNLĐ 62% nhưng không được lấy kết quả này làm căn cứ để nghỉ hưu trước tuổi mà phải giám định y khoa trở lại.

Sáu là, xuất phát từ trách nhiệm của các bên tham gia vào quá trình lao động, khi NLĐ bị TNLĐ thì chỉ nên quy định việc đền bù cho NLĐ nếu xác định NSDLĐ có lỗi và quy định mức đền bù phải “xứng đáng”. Hiện nay, thì ngoài quy định phải đền bù do lỗi của mình, NSDLĐ phải chi trả trợ cấp cho NLĐ mà lỗi không do mình gây ra như tai nạn giao thông, tai nạn do bất cẩn của NLĐ gây ra... Nghiên cứu thực trạng cho thấy hơn một nữa đơn vị sử dụng lao động không thực hiện việc chi trả trợ cấp này.

Bảy là, khi NLĐ gặp phải rủi ro, nếu họ bị rủi ro trong điều kiện hưởng chế độ TNLĐ theo quy định thì NLĐ được quyền hưởng chế độ TNLĐ không phải phân biệt lỗi của họ. Nhất quán định hướng này sẽ mở rộng hơn phạm vi bảo vệ NLĐ bởi công việc hàng ngày họ luôn phải đối mặt với những rủi ro từ môi trường làm việc (gồm không khí để thở, nhiệt độ xung quanh, tiềng ồn, điều kiện làm việc, đi lại...) đến các mối quan hệ ứng xử giữa con người với nhau. Thực tế cho thấy nhiều vụ việc tai nạn chưa rõ nguyên nhân xảy ra trong giờ làm việc, tại nơi làm việc chưa được xem xét hưởng chế độ TNLĐ.

Tám là, việc trợ cấp TNLĐ cho NLĐ cần phải được tập trung vào một nguồn hoặc một đầu mối. Chẳng hạn, NSDLĐ chịu trách nhiệm chi trả các khoản về chi phí y tế từ khi sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị ổn định thương tật, chi phí tiền lương trong thời gian điều trị, chi phí cho việc giám định KNLĐ, đồng thời cũng phải có trách nhiệm chi trả trợ cấp hoặc bồi thường TNLĐ tuỳ thuộc vào mức độ suy giảm KNLĐ và yếu tố lỗi của NLĐ hay của NSDLĐ. Còn cơ quan BHXH chịu trách nhiệm chi trả tiền trợ cấp hàng tháng hoặc trợ cấp một lần tuỳ từng đối tượng cho người bị TNLĐ. Cũng có sự không tập trung vào nguồn chi trả như trường hợp chi trả tuất hàng tháng cho thân nhân NLĐ bị TNLĐ chết được lại được hạch toán vào quỹ hưu trí tử tuất, không hạch toán vào quỹ TNLĐ. Sự phân tán này thực tế gây nhiều bất cập trong việc hoàn thiện chính sách và cân đối thu chi quỹ TNLĐ.

Chín là, đảm bảo cho NLĐ phải được giải quyết chế độ TNLĐ khi xảy ra TNLĐ mà không phải phụ thuộc vào yếu tố chủ quan của NSDLĐ hay cơ quan quản lý nhà nước hoặc cơ quan quản lý quỹ. Theo đó, cần quy định rõ trách nhiệm của các bên tham gia BHXH, trách nhiệm của các cơ quan hữu quan trong việc đóng BHXH, thụ lý hồ sơ và giải quyết chế độ TNLĐ cho NLĐ. Định hướng này sẽ nâng cao trách nhiệm của nhà nước, của xã hội đối với NLĐ.

Mười là, việc đi lại trên đường từ nơi ở đến nơi làm việc và ngược lại cũng như đi theo sự phân công của NSDLĐ là nhu cầu không thể thiếu của NLĐ, quá trình tham gia giao thông xảy ra tai nạn là không thể tránh khỏi. Vì vậy, cần phải có loại văn bản minh chứng cho tai nạn có xảy ra là thực hiện được. Biên bản của Công an giao thông nên xem là một trong những văn bản đó, không nhất thiết chỉ có Biên bản Công an giao thông mới xem xét công nhận đó là TNLĐ. Quy định hiện hành đã gây rất nhiều khó khăn khi giải quyết chế độ cho NLĐ, vì công an chỉ lập biên bản trong những trường hợp nặng và chết hoặc chỉ lập được ở các đường giao thông huyện, nội thị, thành, hoặc vụ tai nạn giao thông mà các bên gây ra không thể tự thỏa thuận được...

Mười một là, làm rõ chức năng quản lý thu và chi trả chế độ TNLĐ với chức năng quản lý nhà nước về TNLĐ và có sự phối kết hợp giữa các cơ quan quản lý quỹ và cơ quan quản lý nhà nước. Yêu cầu này xuất phát từ thực tế hiện nay là cơ quan BHXH được giao cả hai chức năng, đó là kiểm tra vụ việc xảy ra có phải là TNLĐ hay không sau đó mới lập thủ tục giải quyết chế độ cho NLĐ đang gặp rất nhiều khó khăn vướng mắc. 

Mười hai là, việc hoàn thiện chế độ TNLĐ cần phải được học tập kinh nghiệm của các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước có nền kinh tế phát triển và các nước trong khu vực. Đó là những kinh nghiệm khi xây dựng mức đóng của chủ sử dụng lao động ở các ngành nghề sản xuất kinh doanh khác nhau; hoặc kinh nghiệm về tổ chức quản lý đối tượng được hưởng trợ cấp TNLĐ...

 

 


Tin cũ:

 
Tiếp >

Tuyên truyền

ISO 9001:2008




 
 

Lượt truy cập