Website Bảo hiểm xã hội tỉnh Quảng Nam - Nghiên cứu - Trao đổi: Xung quanh việc phát triển đối tượng tham gia BHXH, BHYT và thu hồi nợ trong công tác phối hợp với cơ quan Thuế
Trang chủGiới thiệuTin TứcCác chế độ BHXH-BHYTNghiên cứu - Trao đổiBiểu MẫuĐiều hành nội bộ
Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế vì an sinh xã hội, vì hạnh phúc mọi người. Thực hiện Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế là trách nhiệm của Nhà nước, doanh nghiệp và mọi người lao động. Tham gia bảo hiểm y tế để được chăm sóc tốt về sức khoẻ và bảo đảm cho cuộc sống hạnh phúc. Thực hiện tốt chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế là góp phần bảo đảm an sinh xã hội của đất nước. Bảo hiểm xã hội - chỗ dựa vững chắc của người lao động.
Hôm nay: 17/07/2018
Nghiên cứu - Trao đổi: Xung quanh việc phát triển đối tượng tham gia BHXH, BHYT và thu hồi nợ trong công tác phối hợp với cơ quan Thuế In E-mail
01/03/2018 - 10:23

                                                                                                                                                                                                    Trần Thị Kim Anh

 

            Tham gia bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động (NLĐ) là nghĩa vụ và trách nhiệm của người sử dụng lao động (NSDLĐ). Tuy nhiên, hiện còn có một bộ phận không nhỏ NSDLĐ luôn tìm cách lách luật, trốn đóng BHXH cho NLĐ hoặc sử dụng lao động nhiều nhưng khai báo ít cũng như chây ì, kéo dài nợ BHXH khiến cho quyền lợi của NLĐ bị ảnh hưởng. Để khắc phục tình trạng trên, ngoài nổ lực của ngành BHXH thì một trong những biện pháp có hiệu quả là đẩy mạnh công tác phối hợp với ngành Thuế. Ngày 31/12/2014 BHXH Việt Nam và Tổng cục Thuế đã ký quy chế phối hợp số 5423/QCPH-BHXH-TCT, theo đó một số nội dung cơ bản thực hiện hợp tác giữa hai bên như: tiến hành trao đổi thông tin về tổ chức trả thu nhập, số lượng NLĐ trong tổ chức trả thu nhập, tiền trích BHXH bắt buộc mà tổ chức trả thu nhập tính vào chi phí để tính thuế, danh sách NLĐ trong tổ chức trả thu nhập,… Đây là cơ sở quan trọng để cơ quan BHXH thực hiện tốt công tác mở rộng, phát triển đối tượng tham gia BHXH và thu hồi  tiền nợ BHXH tồn đọng kéo dài của các doanh nghiệp.

            Trong giới hạn bài viết, xin tiếp cận từ thực tế tổ chức thực hiện tại tỉnh Quảng Nam. Có thể thấy trong thời gian qua, việc phối hợp hoạt động giữa cơ quan BHXH với các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan quản lý ngành, trong đó có cơ quan Thuế khá chặt chẽ, tuy nhiên kết quả đạt được vẫn chưa như mong muốn.

            Có thể thấy số liệu thống kê sau đây:

Bảng 1: Tình hình lao động và  đơn vị chưa tham gia BHXH, BHYT, bảo hiểm thất nghiệp năm 2017.

STT

Nội dung

Các loại hình đơn vị

Tổng Cộng

 

DN Nhà nước

DN ngoài quốc doanh

DN có vốn ĐTNN

Hợp tác xã

Hộ kinh doanh cá thể

 
 

1

Số đơn vị chưa tham gia BHXH (1-2)

0

1.496

3

43

290

1.832

 

 

- Số đơn vị đang nộp thuế (1)

6

3,500

136

121

370

4,133

 

 

- Số đơn vị đang đóng BHXH (2)

6

2,004

133

78

80

2,301

 

2

Số lao động chưa tham gia BHXH (3-4)

10

62.040

259

189

1.792

64.290

 

 

- Số lao động nộp thuế TNCN (3)

390

130.000

38.800

810

2.550

172.550

 

 

  - Số lao động đang đóng BHXH (4)

380

67.960

38.541

621

758

108.260

 

(Nguồn tin BHXH Quảng Nam và Cục Thuế Quảng Nam)

            Từ số liệu bảng 1 nêu trên cho thấy, số lao động và số đơn vị chưa tham gia BHXH bắt buộc trên địa bàn còn rất cao. Cụ thể: số đơn vị chưa tham gia BHXH chiếm 44,32% trong tổng số đơn vị có khai thuế, tương ứng 1.832 đơn vị; số lao động ở đơn vị chưa tham gia BHXH chiếm 37,25% trong tổng số lao động ở đơn vị có kê khai thuế, tương ứng khoảng 64.290 người lao động. Đây là vấn đề không chỉ một cơ quan BHXH có thể thực hiện được mà cần có sự can thiệp của các cơ quan quản lý lao động và quản lý hoạt động kinh doanh đối với các doanh nghiệp.

   Bảng 2: Tình hình nợ BHXH, BHYT, bảo hiểm thất nghiệp giai đoạn 2013-2017 của các doanh nghiệp, hợp tác xã

                                                                                                                 Đơn vị tính: Tỷ đồng

STT

Năm

2013

2014

2015

2016

2017

1

Tổng số phát sinh phải thu

584,327

772,379

944,835

1.248,614

1.509,785

2

Tổng số nợ BHXH,BHYT, bảo hiểm thất nghiệp

64,136

76,149

67,347

86,227

96,975

3

Tỷ lệ nợ (Tổng số nợ/tổng số phát sinh)

10,97 %

  9,86%

   7,13%

  6,9%

  6,42%

            Từ số liệu bảng 2 nêu trên cho thấy số tiền nợ BHXH của các doanh nghiệp, hợp tác xã ngày càng tăng qua các năm. Cụ thể: tổng nợ năm 2013 hơn 64,136 tỷ đồng nhưng đến năm 2017 tăng lên hơn 96,975 tỷ đồng. Thực trạng trên có thể do một số nguyên nhân sau:

            Thứ nhất, cơ quan Thuế thường xuyên cung cấp danh sách lao động trong các tổ chức nộp thuế thu nhập cá nhân cho cơ quan BHXH. Tuy nhiên, đó là con số thống kê tình hình lao động và doanh nghiệp trên địa bàn nộp thuế, cơ quan BHXH chưa đủ cơ sở để phát triển toàn diện các đối tượng thuộc diện đóng BHXH bắt buộc. Thực tế hiện nay, các doanh nghiệp muốn trốn thuế thu nhập cá nhân thì thường ký những hợp đồng lao động khống hoặc có thể ký nhiều hợp đồng lao động cho nhiều người làm một công việc như nhau và hưởng tiền lương như nhau qua các tháng với mục đích cuối cùng không ảnh hưởng đến thuế thu nhập cá nhân. Trong khi đó cơ quan BHXH thanh tra, kiểm tra thì hầu hết các doanh nghiệp đều né tránh, cung cấp các hợp đồng lao động và các bảng thanh toán tiền lương, tiền công không đúng như đã báo cáo thuế thu nhập cá nhân... với mục đích trốn đóng BHXH cho NLĐ và tính chi phí đóng BHXH bắt buộc không đúng thực tế.

            Thứ hai, sau khi các doanh nghiệp nộp báo cáo tài chính và báo cáo thuế thu nhập cá nhân về cơ quan Thuế nghĩa là đã xác định được chính xác chi phí đóng BHXH do doanh nghiệp nộp và số tiền đã trích trừ các khoản BHXH, BHYT, bảo hiểm thất nghiệp từ tiền lương của NLĐ. Thực tế hiện nay, các doanh nghiệp rất “khôn khéo” trong vấn đề xử lý hồ sơ, chứng từ để tăng chi phí, giảm doanh thu, giảm thuế doanh nghiệp và đồng thời trốn đóng BHXH cho NLĐ, chiếm dụng tiền BHXH vào mục đích kinh doanh khác, cố tình để nợ kéo dài, mọi chế độ của NLĐ đều không được giải quyết.

            Từ những nội dung nêu trên, để góp phần mở rộng, phát triển đối tượng tham gia BHXH và thu hồi tiền nợ đọng BHXH, trong quá trình phối hợp với cơ quan Thuế có thể xem xét thêm một số khía cạnh cụ thể như sau:

            Một là, sự giám sát chặt chẽ của cơ quan Thuế sẽ phát hiện doanh nghiệp trốn đóng BHXH, BHYT, bảo hiểm thất nghiệp cho NLĐ thông qua báo cáo tài chính hằng quý, hằng năm. Báo cáo tài chính là tổng hợp quá trình sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp, phản ánh tình hình tài chính, quá trình hạch toán kế toán của một doanh nghiệp bằng các tài khoản kế toán theo quy định của Bộ Tài chính; trong đó có các tài khoản liên quan đến thực hiện chế độ BHXH, BHYT, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động, cụ thể như: tài khoản phải trả tiền lương cho NLĐ (TK334), tài khoản chi phí quản lý doanh nghiệp hạch toán tương ứng tiền lương (TK642/TK641), tài khoản chi phí nhân công hạch toán tương ứng tiền lương (TK622/TK154), tài khoản theo dõi các khoản phải nộp về BHXH, BHYT, bảo hiểm thất nghiệp (TK338: TK chi tiết 3383, 3384, 3386). Khi có phát sinh tài khoản tiền lương (TK334) trên báo cáo tài chính thì phải có tài khoản đối ứng chi phí tiền lương hoặc TK641/ TK642/ TK622/ TK154. Nếu doanh nghiệp không chấp hành pháp luật về BHXH, BHYT, bảo hiểm thất nghiệp thì trong báo cáo tài chính sẽ không có TK338 (TK 3382,3384, 3386).

            Hơn nữa, nếu các doanh nghiệp nộp BHXH, BHYT, bảo hiểm thất nghiệp cho NLĐ thì các khoản chi phí trả tiền lương được khấu trừ chỉ còn gần 2/3 số tiền thực tế doanh nghiệp đã khấu trừ  là do NLĐ phải trích nộp gần 1/3 từ tiền lương và ngược lại các doanh nghiệp không nộp BHXH, BHYT, bảo hiểm thất nghiệp thì tất cả các khoản chi phí trả lương được khấu trừ 100% vào chí phí quản lý; đồng thời đã có chi phí tiền lương nghĩa là có lao động, vậy phải có số liệu trên TK 338.

            Vì vậy, chỉ cần xem trong báo cáo tài chính (trên bảng cân đối tài khoản)  của doanh nghiệp thì cơ quan Thuế sẽ biết được doanh nghiệp nào có tham gia BHXH, BHYT, bảo hiểm thất nghiệp cho NLĐ.

            Hai là, bổ sung trách nhiệm của cơ quan Thuế khi tiếp nhận và kiểm tra báo cáo tài chính của các doanh nghiệp. Nếu có phát sinh tài khoản tiền lương TK334 và các tài khoản chi phí như TK641/TK642/TK622/TK154 mà không có số phát sinh tài khoản BHXH, BHYT, bảo hiểm thất nghiệp thể hiện trên TK338 thì cơ quan Thuế yêu cầu doanh nghiệp điều chỉnh và thực hiện lại công tác báo cáo tài chính. Việc này sẽ góp phần trong công tác quản lý lao động đối với các đơn vị có liên quan,  mở rộng, phát triển đối tượng tham gia BHXH tại các doanh nghiệp chưa tham gia BHXH.

            Ba là, cơ quan Thuế cần xem xét chia sẻ thông tin về báo cáo tài chính và báo cáo thuế thu nhập cá nhân của các doanh nghiệp trên địa bàn quản lý. Việc này giúp cơ quan BHXH chủ động hơn trong việc xác định chính xác chi phí đóng BHXH bắt buộc tại các doanh nghiệp, tác động hỗ trợ lẫn nhau trong việc kiểm tra, quản lý các báo cáo mà các doanh nghiệp đã thực hiện cũng như việc phát triển đối tượng tham gia BHXH khi Luật Bảo hiểm xã hội 2014 quy định từ ngày 01/01/2018:  mức lương làm căn cứ đóng BHXH là “mức lương đầy đủ bao gồm lương cấp bậc, chức vụ, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác” và “ người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 1 tháng đến dưới 3 tháng” là đối tượng đóng BHXH bắt buộc.

            Bốn là, xem xét bổ sung thêm nội dung trong quy chế phối hợp giữa hai bên nhưng vẫn giữ đúng các quy định tại Điều 6, Điều 8 và Điều 73, Luật quản lý Thuế về việc “Giữ bí mật thông tin của người nộp thuế”. Giảm thiểu tình trạng khai man hồ sơ, gian lận trong kê khai thuế thu nhập cá nhân. Đối với cơ quan Thuế xác định đúng mức thu nhập chịu thuế của NLĐ và chi phí đóng BHXH được giảm trừ…  Đối với cơ quan BHXH có đủ cơ sở để xử lý vi phạm về trốn đóng BHXH cho NLĐ và thu hồi tiền nợ đọng kéo dài và cao hơn là đủ cơ sở pháp lý để “khởi tố hình sự” đối với các doanh nghiệp cố tình vi phạm việc thực hiện công tác BHXH, BHYT, bảo hiểm thất nghiệp theo quy định tại Điều 216, Bộ Luật hình sự năm 2015, thực hiện kể từ ngày 01/01/2018.

            Tóm lại, làm tốt công tác phối hợp giữa hai đơn vị không chỉ góp phần hoàn thành nhiệm vụ chính trị của mỗi cơ quan, mà còn có tác động rất tích cực đến các doanh nghiệp có cái nhìn đúng đắn trong việc chấp hành chính sách pháp luật BHXH, BHYT, bảo hiểm thất nghiệp; đảm bảo an sinh xã hội; tạo ra sự bình đẳng về giá cả sản xuất và sự cạnh tranh lành mạnh trên thị trường giữa các doanh nghiệp; đảm bảo quyền lợi cho NLĐ về chế độ BHXH, BHYT, bảo hiểm thất nghiệp theo đúng quy định của pháp luật.

 

Tài liệu tham khảo:

- Luật BHXH năm 2014.

- Bộ Luật hình sự năm 2015

- Luật Quản Lý Thuế số 71/2014/QH13

- Thông tư 111/2013/TT-BTC

 


Tin mới:
Tin cũ:

 
< Trước   Tiếp >
dieuhanhvanbanbhxh.png
mail_vss.png
htdhnb.gif
  gcn2017.png
c65-bhxh.png
 

 
 
congbao.gif

Tuyên truyền

ISO 9001:2008




 
 

Lượt truy cập

Liên kết web



PHONG CẢNH ĐẸP ĐẤT QUẢNG

Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm, rượu hồng đào chưa nhấm đà say"